PHÒNG KHÁM ĐA KHOA HỒNG CƯỜNG ✚ Địa chỉ: 87 - 89 Thành Thái, P.14, Q.10, TP.HCM ✚ Thời gian làm việc: Từ 8h – 20h từ thứ 2 đến chủ nhật (kể cả lễ, tết) ✚ Website: https://phongkhamdakhoahongcuong.vn/ ✚ Hotline: (028) 3863 9888 - tư vấn miễn phí 24/24 http://google.com.do/url?q=https://phongkhamdakhoahongcuong.vn/
Viêm niệu đạo (ở nam giới), viêm âm đạo (ở nữ giới) do trùng roi Trichomonas còn có tên gọi là Trichomoniasis – đây là bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) rất phổ biến hiện nay. Thông thường, trùng roi Trichomonas kí sinh tại các vị trí, bộ phận như: dịch tiết âm đạo, nếp gấp dưới da ở bộ phận sinh dục, vòi trứng, buồng trứng, tử cung, bàng quang, thận, niệu đao, niệu quản… Tuy nhiên, tỷ lệ trùng roi Trichomonas ký sinh ở âm đạo là cao nhất.
Trùng roi Trichomonas có nguồn lây nhiễm và đường lây nhiễm khá đa dạng, cụ thể là:
Nguồn lây nhiễm trùng roi Trichomonas
♦ Trùng roi Trichomonas chỉ trú ngụ trong cơ thể người và dễ lây truyền qua đường quan hệ tình dục không an toàn. Ở nữ giới, bộ phận chứa nhiều và dễ bị nhiễm trùng roi Trichomonas hơn hết là vùng sinh dục dưới gồm âm hộ, âm đạo, niệu đạo và cổ tử cung. Ở nam giới, trùng roi Trichomonas cư trú bên trong dương vật – lỗ niệu đạo.
♦ Bệnh viêm nhiễm do trùng roi có thời gian ủ bệnh là 1 – 4 tuần, một số trường hợp không xuất hiện triệu chứng cụ thể, dễ lây lan và gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Con đường lây nhiễm trùng roi Trichomonas
♦ Qua quan hệ tình dục: Khi quan hệ tình dục không áp dụng các biện pháp an toàn, trùng roi Trichomonas có thể lây lan từ dương vật sang âm đạo và ngược lại. Hiếm có trường hợp các bộ phận khác trên cơ thể như tay, miệng hay hậu môn bị nhiễm trùng roi Trichomonas.
♦ Lây nhiễm qua đồ vật: Ngoài ra, bệnh có thể lây truyền qua đồ dùng, khăn tắm, quần áo, bồn tắm hoặc môi trường nước bị nhiễm trùng roi Trichomonas.
Khi bị viêm âm đạo do nhiễm trùng roi Trichomonas, bệnh sẽ xuất hiện những triệu chứng khác nhau qua từng giai đoạn của bệnh. Tuy nhiên, bệnh ở giai đoạn ban đầu (cấp tính) thường có những triệu chứng rõ rệt như:
♦ Vùng kín ra nhiều khí hư, khi hư có màu trắng đục, đôi khi có màu xanh hoặc vàng, sủi bọt và có mùi hôi rất khó ngửi
♦ Ngứa âm hộ - âm đạo kèm theo cảm giác đau đớn như kim châm, đau khi quan hệ
♦ Âm đạo bị viêm tấy và sưng đỏ, có nhiều vị trí xuất hiện tình trạng loét
♦ Nếu kéo dài không chữa trị, bệnh có thể chuyển sang giai đoạn bán cấp và mạn tính. Những giai đoạn này thường không có triệu chứng viêm tấy âm đạo nhưng bệnh vẫn âm thầm phát triển và kéo dài.
Nhiễm trùng roi âm đạo nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời thì tình trạng viêm nhiễm càng nghiêm trọng. Đồng thời bệnh kéo dài có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như:
♦ Viêm vòi trứng, viêm buồng trứng khiến các chị em đau đớn và có hiện tượng rong kinh
♦ Có thể khiến cổ tử cung bị viêm loét, ngứa ngáy, đau rát, niêm mạc sưng đỏ
♦ Nếu trùng roi Trichomonas tiết ra dịch nhầy, tạo thành nút bao bọc và bịt kín cổ tử cung sẽ ngăn cản tinh trùng xâm nhập vào thể thụ tinh với trứng, làm tăng nguy cơ vô sinh.
♦ Ngoài ra, nhiễm trùng roi Trichomonas còn gây nên biến chứng viêm đường tiết niệu với biểu hiện rõ ràng hoặc không rõ ràng. Một số trường hợp nữ giới có thể cảm thấy đau buốt khi tiểu tiện, có thể phát hiện dịch mủ và ký sinh trùng trong nước tiểu.
Xem thêm thông tin:https://dakhoanguyentrai.vn/nhung-sai-lam-cua-nhung-nguoi-mac-benh-lay-qua-duong-tinh-duc.html
Việc tìm hiểu cụ thể về bệnh HIV và con đường lây nhiễm là những kiến thức hữu ích giúp bạn có biện pháp phòng tránh cũng như kịp thời đi xét nghiệm bệnh và hỗ trợ ngay ở giai đoạn phơi nhiễm.
HIV là tên viết tắt của Human immunodeficiency virus; thuộc họ Retroviridae; vật chất di truyền là ARN (một sợi dương có áo ngoài). Đây thực chất là hội chứng suy giảm hệ miễn dịch ở người.
Khi xâm nhập vào cơ thể người, virus HIV có khả năng nhân lên nhanh chóng, tấn công phá hủy tế bào lympho T, tiêu diệt các tế bào CD4, phá hủy hệ thống “phòng vệ” của cơ thể.
Kết quả, hệ thống miễn dịch dần bị suy yếu, mất chức năng. Ở giai đoạn nặng (chuyển sang AIDS) cơ thể hầu như không thể “chống chọi” lại được bất kỳ tác nhân gây bệnh nào. Virus, vi khuẩn tấn công ào ạt, gây hàng loạt các nhiễm trùng và có thể dẫn đến tử vong.
HIV có thể chữa trị được không? thì câu trả lời là không. Việc dùng thuốc có thể kiểm soát được sự nhân lên của virut, cải thiện hệ miễn dịch, kéo dài sự sống. Việc phát hiện sớm virus HIV không chỉ có ý nghĩa cho bản thân người bệnh mà còn bảo vệ/ phòng chống lây nhiễm cho những người thân xung quanh và hạn chế sự lây lan ra cộng đồng.
HIV là căn bệnh có tính chất cực kỳ nguy hiểm và đến nay vẫn chưa tìm ra được loại thuốc đặc trị cho căn bệnh này. Song, tốc độ lây nhiễm lại “tăng vọt” và hầu như mọi người vẫn còn thiếu cảnh giác với các con đường lây nhiễm HIV
♦ Quan hệ tình dục không an toàn:
Thống kê cho thấy, 88% các ca nhiễm HIV là lây qua đường quan hệ tình dục, bao gồm:
- Tiếp xúc âm đạo - dương vật: Virus HIV có nhiều trong máu, dịch tiết âm đạo/ dịch niệu đạo nam giới. Do đó, khi quan hệ việc tiếp xúc cơ quan sinh dục thì khả năng lây nhiễm rất cao.
- Kích thích tình dục bằng miệng (khi có vết thương hở tại miệng, lợi/nước chảy máu, bị nhiệt miệng)
- Quan hệ qua đường hậu môn (có vết nứt/xước/rách da hậu môn). Con đường này có mức độ nguy cơ lây nhiễm cao nhất
♦ HIV lây nhiễm qua đường máu:
Chủ yếu thông qua các hình thức như:
- Vết thương hở của bản thân tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết của người bệnh
- Dùng chung kim tiêm chích ma túy, dao cạo râu, kim xăm trổ, kim châm cứu hoặc bàn chải đánh răng có chứa máu người bệnh.
- Cho nhận máu không có nguồn gốc rõ ràng hoặc chưa được sàng lọc HIV
- Dùng chung dụng cụ y tế nhưng không được tiệt trùng sạch sẽ hoặc bị xuyên cắt qua da như dao, kéo.
♦ Truyền bệnh từ mẹ sang con:
Những phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV trước đó, dù bản thân chưa phát hiện triệu chứng thì vẫn lây truyền cho thai nhi thông qua các chất dịch, máu, nhau thai, sinh nở qua đường âm đạo hoặc sữa cho con bú…
♦ Ngoài ra, một số con đường lây nhiễm ít gặp hơn như: nước bọt, mồ hôi, nước tiểu… Tỷ lệ lây nhiễm gần như rất thấp. Bởi thông thường HIV ở trong cơ thể; rất ít hoặc không đạt ngưỡng để lây nhiễm qua các tiếp xúc thông thường.
HIV có khả năng lây nhiễm nhanh. Vì sao? vì thực chất căn bệnh này hầu như không có triệu chứng hoặc nếu có cũng khá “mờ nhạt” và nó có thể trải qua một giai đoạn ẩn tàng (tiềm ẩn) tức là không có triệu chứng. Song dù là ở giai đoạn nào, HIV cũng có thể lây truyền cho người khác, dù cơ thể không có triệu chứng và ngay cả bản thân người bệnh cũng không hề hay biết sự tồn tại của loại virus này.
Tùy vào sức khỏe, hệ thống miễn dịch, cơ địa của người bệnh mà HIV có thể gây ra một số triệu chứng ở giai đoạn cấp tính như sau:
+ Cơ thể có biểu hiện sốt nhẹ (37- 38 độ C); có thể kèm theo ớn lạnh
+ Cơ thể mệt mỏi, buồn ngủ, khó tập trung
+ Đau nhức khắp người, đau khớp, đau cơ bắp, đau đầu
+ Xuất hiện triệu chứng đau họng, viêm họng, khó nuốt
+ Nổi hạch ở cổ, nách hoặc 2 bên bẹn/ háng. Ở giai đoạn chuyển sang AIDS thì hạch nổi khắp cơ thể.
Xem thêm thông tin:
https://dakhoanguyentrai.vn/nam-gioi-de-bi-yeu-sinh-ly-boi-nhung-thoi-quen-xau-thuong-ngay.html
Cơ chế hoạt động đó là ức chế sự tổng hợp DNA, sự nhân lên của virus nhưng không ảnh hưởng đến các tế bào bình thường. Do vậy, dưới đây một số công dụng mà bác sĩ sẽ kê đơn điều trị các loại bệnh sau:
♦ Điều trị nhiễm Herpes sinh dục khởi phát và tái phát, đặc biệt là nhiễm Herpes Simplex trên da và màng nhầy.
♦ Ngăn ngừa hiện tượng tái phát do nhiễm Herpes simplex ở bệnh nhân có hệ miễn dịch bình thường.
♦ Phòng ngừa nhiễm Herpes simplex ở bệnh nhân đã suy giảm hệ miễn dịch.
♦ Điều trị nhiễm Herpes Zoster (bệnh Zona thần kinh) và nhiễm Varicella (bệnh thủy đậu).
Cách dùng:
Thuốc được sản xuất ở dạng viên nén, được dùng bằng đường uống. Thông thường, nên dùng thuốc sau bữa ăn để đảm bảo hiệu quả thuốc.
Liều dùng:
► Đối với người lớn:
♦ Nhiễm Herpes Simplex khởi phát: Dùng 200 mg x 5 lần/ngày, trong vòng từ 5 - 10 ngày.
♦ Phòng ngừa tái phát Herpes Simplex ở bệnh nhân có hệ miễn dịch bình thường: Dùng 800mg chia chia đều ra 2 - 4 lần/ngày. Tùy theo tình hình có thể giảm liều xuống từ 400 - 600 mg/ngày. Hoặc có thể dùng liều cao hơn là 1 gam/ngày.
♦ Phòng ngừa nhiễm Herpes simplex ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch: Dùng từ 200 - 400mg x 4 lần/ngày.
♦ Người bị bệnh thủy đậu: Dùng 800mg x 4 hoặc 5 lần/ngày, trong khoảng từ 5 - 7 ngày.
♦ Người bị Zona thần kinh: Dùng 800mg x 5 lần/ngày, trong khoảng 7 - 10 ngày.
► Đối với trẻ em:
♦ Nhiễm Herpes Simplex và phòng ngừa nhiễm Herpes simplex ở bệnh nhân đã suy giảm miễn dịch: Với trẻ từ 2 tuổi trở lên dùng bằng liều người lớn; trẻ dưới 2 tuổi chỉ dùng một nửa liều của người lớn.
♦ Bị bệnh thủy đậu: Dùng liên tục trong 5 ngày. Trẻ từ 6 tuổi trở lên dùng 800mg x 4 lần/ngày. Trẻ từ 2 - 5 tuổi dùng 400mg x 4 lần/ngày. Trẻ dưới 2 tuổi dùng 200mg x 4 lần/ngày.
► Đối với người suy thận: Tùy vào độ thanh thải creatinin ở bệnh nhân suy thận mà nên giảm liều khi sử dụng.
♦ Creatinin dưới 10ml/phút: Bệnh nhân nhiễm Herpes Simplex dùng 200mg mỗi 12 giờ; nhiễm Varicella-zoster dùng 800mg mỗi 12 giờ.
♦ Creatinin từ 10 - 25ml/phút: Dùng 800mg x 3 lần/ngày mỗi 8 giờ với bệnh nhân nhiễm Varicella-zoster.
Quá liều: Khi dùng quá liều, bệnh nhân có thể xuất hiện xuất hiện các triệu chứng như: Lo âu, co giật, cơ thể mệt mỏi, sưng ở các vị trí như bàn tay, bàn chân, cẳng chân. Đặc biệt, nếu bệnh nhân bị khó thở, hôn mê cần gọi cấp cứu nhanh chóng để xử lý kịp thời.
Thiếu liều: Sử dụng liều đã quên ngay khi nhớ ra càng sớm càng tốt trong khoảng thời gian cho phép. Tuy nhiên, khi quên liều và thời gian gần đến liều tiếp theo, hãy bỏ quên liều cũ và tiếp tục dùng thuốc theo đúng lịch trình. Tuyệt đối không được dùng gấp đôi liều quy định.
♦ Dược chất chính trong thuốc là Acyclovir chủ yếu được đào thải qua thận. Vì vậy, bệnh nhân suy thận khi dùng thuốc cần phải được điều chỉnh liều dùng.
♦ Đối với các bệnh nhân lớn tuổi, chức năng thận suy giảm, khi sử dụng thuốc cũng phải cần được điều chỉnh liều.
♦ Bệnh nhân suy thận và lớn tuổi khi dùng thuốc đều tăng nguy cơ tác dụng phụ lên hệ thần kinh. Do đó, cần theo dõi các biểu hiện của tác dụng phụ lên nhóm bệnh nhân này.
♦ Khi ngưng dùng thuốc, các phản ứng phụ này hầu như đều tự phục hồi.
♦ Thận trọng khi dùng Acyclovir cho phụ nữ có thai và đang cho con bú.
Xem thêm thông tin:
https://dakhoanguyentrai.vn/co-nen-cat-day-than-kinh-lung-duong-vat.html
Những bệnh thường mắc phải do nhiễm trùng nấm Candida là:
♦ Tưa miệng: Được gọi chung là nhiễm trùng miệng do nấm Candida albicans. Nấm sẽ ảnh hưởng đến các vị trí như: bề mặt ẩm quang môi, vòm miệng, trên lưỡi và bên trong má.
♦ Viêm thực quản: Bệnh là do nấm Candida từ miệng lây lan sang thực quản.
♦ Nhiễm nấm Candida ở da: Những vùng da ít thông thoáng, thường ẩm ướt như: tay thường xuyên mang găng tay, vành da ở gốc móng tay khi thường xuyên tiếp xúc với nước, vùng da quanh bẹn, các nếp gấp ở mông và dưới ngực… thường dễ bị nhiễm nấm Candida.
♦ Nhiễm nấm Candida vùng kín: Do sự phát triển mạnh mẽ của nấm Candida trú ngụ tại đường sinh dục gây nên và thường gây viêm phụ khoa ở nữ giới. Phụ nữ mang thai và người bệnh tiểu đường có nguy cơ nhiễm nấm âm đạo cao hơn bình thường.
♦ Nhiễm trùng nấm Candida toàn thân: Nấm Candida có thể thông qua vết thương phẫu thuật, ống thông khí hoặc vị trí mở khí quản… xâm nhập vào máu, gây nhiễm trùng máu. Dần dần lây lan khắp cơ thể gây nhiễm trùng nặng. Nhiễm trùng nấm Candida toàn thân thường xảy ra ở trẻ sơ sinh có trọng lượng thấp hoặc người có hệ miễn dịch suy yếu.
Các bệnh do nhiễm trùng nấm Candida gây ra ở vùng miệng, trên da, thực quản và đường sinh dục có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ít khi đe dọa đến tính mạng. Nghiêm trọng là khi nấm Candida xâm nhập vào máu, nếu không cấp cứu kịp thời sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng.
Các chủng nấm Candida tồn tại trên cơ thể người và cân bằng với các vi sinh vật khác. Tuy nhiên, một số yếu tố có thể khiến các chủng nấm phát triển mạnh mẽ và gây bệnh. Những nguyên nhân khiến nấm Candida phát triển và gây bệnh có thể là:
♦ Sử dụng thuốc kháng sinh, các loại thuốc có corticoid trong thời gian dài có thể gây mất cân bằng hệ vi sinh vật, tạo điều kiện để nấm Candida trên cơ thể phát triển mạnh mẽ. Vì khi sử dụng kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn có hại có thể tác động đến vi khuẩn vô hại và có tác dụng kìm hãm sự phát triển của nấm men khiến chúng phát triển vượt tầm kiểm soát.
♦ Hệ miễn dịch suy yếu nghiêm trọng, khả năng đề kháng giảm khiến các tác nhân gây bệnh như nấm Candida phát triển. Nhiễm trùng nấm Candida do suy giảm hệ miễn dịch thường gặp ở phụ nữ mang thai, người bị tiểu đường hoặc nhiễm HIV/AIDS…
♦ Do vệ sinh vùng kín không sạch sẽ, mặc quần áo bó sát khiến khu vực này không được thông thoáng tạo ra môi trường lý tưởng để nấm Candida phát triển, gây bệnh.
♦ Uống thuốc tránh thai cũng có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng nấm men ở âm đạo.
♦ Béo phì dù không phải là nguyên nhân trực tiếp nhưng có thể là yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm trùng nấm Candida. Nấm thường xuất hiện tại các vùng da tiếp xúc và cọ sát nhau. Những người thừa cân, béo phì thường có nhiều nếp gấp trên da và dễ đổ mồ hôi nhiều, tạo môi trường ẩm ướt để nấm phát triển.
Đối tượng có nguy cơ nhiễm trùng nấm Candida cao
Nhiễm trùng nấm Candida thường dễ xuất hiện và gây bệnh ở những tối tượng như:
♦ Mọi người đều có nguy cơ nhiễm trùng nấm Candida, nhưng phụ nữ có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn. Đặc biệt là chị em phụ nữ có nồng độ hormone estrogen tăng cao.
♦ Nhóm người có hệ miễn dịch suy yếu như: Người nhiễm HIV/AIDS, trẻ sơ sinh, bệnh nhân tiểu đường, phụ nữ mang thai…
♦ Nhóm người sử dụng kháng sinh hay thuốc có thành phần corticoid dài ngày, điều trị bệnh ung thư bằng xạ trị hay hóa trị.
♦ Nhóm người giữ vệ sinh cơ thể và vùng kín kém, người đeo răng giả…
Tùy vào khu vực nhiễm trùng nấm candida và mức độ nhiễm nấm mà bệnh có những triệu chứng khác nhau. Bao gồm các triệu chứng như:
♦ Nhiễm trùng nấm candida ở da: Trên da xuất hiện các đốm màu trắng hoặc đỏ, những đốm này thường ngứa rát và có thể sưng lên.
♦ Nhiễm trùng nấm candida ở miệng: Hay còn được gọi là bệnh tưa miệng. Triệu chứng của bệnh là: bên trong miệng, đặc biệt là trên vòm miệng, lưỡi và xung quanh môi xuất hiện các mảng trắng như sữa đông.
Nếu cạo sạch mảng trắng sẽ nhìn thấy lớp niêm mạc bị viêm; tấy đỏ và chảy máu nhẹ, nướu răng cũng có thể bị lở loét, xuất hiện các mảng trắng – đỏ quanh nướu.
♦ Nhiễm trùng nấm candida ở thực quản: Triệu chứng điển hình là khó nuốt, đau khi nuốt, đau ngực ở khu vực phía sau xương ức.
Xem thêm thông tin:
https://dakhoanguyentrai.vn/nhung-kien-thuc-can-thiet-cho-chi-em-bi-hoi-am-dao.html
Công dụng mà Azicine mang lại trong việc điều trị các chứng nhiễm trùng rất hiệu quả, đặc biệt là ở đường hô hấp trên và dưới. Dưới đây một số công dụng điều trị các loại bệnh như:
Viêm đường hô hấp trên:
♦ Viêm họng và viêm Amidan do vi khuẩn Streptococcus Pyogens.
♦ Viêm xoang do nhiễm vi khuẩn cấp như H.Influenzae, S.Pneumoniae hoặc M.Catarrhalis.
Viêm đường hô hấp dưới:
♦ Viêm phổi mắc trong cộng đồng bởi các chủng S.Pneumoniae, H.Influenzae, Mycoplasma Pneumoniae.
♦ Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) do H.Influenzae, M.Catarrhalis gây nên bội nhiễm cấp.
Nhiễm trùng da và mô mềm không biến chứng:
♦ Bệnh nhọt, mủ da
♦ Lở loét do Staphylococcus Aureus, S.Pyrogens hoặc S.Agalactiae.
Bệnh lây truyền qua đường sinh dục:
♦ Loét sinh dục gây bởi Haemophilus Ducreyi
♦ Viêm niệu đạo, viêm cổ tử cung, viêm đường tiểu gây bởi Nesseria Gonorrhoeae hoặc Chlamydia Trachomatis.
Bệnh nhân nhiễm HIV:
♦ Nhiễm trùng lan tỏa gây bởi phức hợp Mycobacterium Avium.
♦ Phòng ngừa nhiễm MAC lan tỏa, kể cả tiên phát và thứ phát.
Cách dùng:
Thuốc được sản xuất ở dạng viên nén, vì thế Azicine 250Mg Stada được dùng bằng đường uống. Để đảm bảo hiệu quả thuốc, bệnh nhân nên uống thuốc trước khi ăn ít nhất 1 giờ hoặc sau khi ăn 2 giờ.
Liều dùng:
► Đối với người lớn:
♦ Nhiễm trùng đường hô hấp trên và dưới, nhiễm trùng da và mô mềm: Dùng liều đơn 500mg trong ngày đầu tiên, từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5, mỗi ngày 250 mg. Khi đó, tổng cộng liều sử dụng là 1,5 g Azithromycin.
♦ Viêm đường tiểu không do lậu cầu và viêm cổ tử cung bởi C. Trachomalis: Sử dụng liều duy nhất 1g.
♦ Viêm đường tiểu không do lậu cầu và viêm cổ tử cung bởi N. Gonorrhoeae: Dùng liều duy nhất 2g.
♦ Bệnh nhân nhiễm HIV bị nhiễm trùng phức hợp Mycobacterium Avium: Tùy vào mức độ nhiễm cũng như thể trạng của bệnh nhân, bác sĩ sẽ chỉ định liều dùng sao cho phù hợp.
► Đối với trẻ em:
♦ Gợi ý dùng liều khởi đầu 10mg/kg thể trọng.
♦ Từ ngày thứ 2 - ngày 5, dùng 5mg mỗi ngày, uống 1 lần 1 ngày.
► Quá liều: Trong các trường hợp khẩn cấp hoặc dùng quá liều chỉ định, cần đưa bệnh nhân đến cấp cứu tại các cơ sở y tế chuyên khoa gần nhất. Khi đi cần mang theo toa thuốc kê đơn của bác sĩ và các loại thuốc dùng kèm theo (nếu có). Khi dùng quá liều, bệnh nhân có thể xuất hiện triệu chứng buồn nôn, tiêu chảy, giảm thính giác.
► Thiếu liều: Nếu quên liều và thời gian dùng liều mới còn cách xa, hãy nhanh chóng bổ sung liều đã quên càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, nếu thời gian đến liều tiếp theo quá ngắn, hãy quên liều cũ và dùng liều mới theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ.
♦ Bệnh nhân quá mẫn cảm với Azithromycin, Erythromycin hoặc bất kỳ kháng sinh nào thuộc nhóm Macrolid thì không được dùng Azicine.
♦ Chống chỉ định cho trẻ em dưới 6 tháng tuổi.
♦ Có thể xuất hiện các phản ứng quá mẫn nghiêm trọng như: Sốc phản vệ, phù mạch, phản ứng da.
Xem thêm thông tin:
https://dakhoanguyentrai.vn/cat-bao-quy-dau-co-dau-khong.html